An ninh năng lượng và ngoại giao năng lượng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam (Kỳ II)

09:00 | 27/05/2020

|
Năm 1976, Nazli Choucri đã xuất bản một cuốn sách “Chính trị quốc tế về sự phụ thuộc lẫn nhau về năng lượng” và đã phân tích sâu sắc về sự phụ thuộc lẫn nhau trong lĩnh vực năng lượng quốc tế.

Kỳ II: Lý thuyết phụ thuộc lẫn nhau và cơ chế hợp tác năng lượng quốc tế

Giao dịch năng lượng bất đối xứng cung cấp một nền tảng để thúc đẩy sự phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành đòn bẩy của sự tương tác và ràng buộc lẫn nhau giữa các nước nhập khẩu và xuất khẩu. Sự phụ thuộc lẫn nhau làm cho hai bên nhận ra rằng có những lợi ích chung trong việc duy trì sự ổn định kinh tế và quân sự của xã hội quốc tế, do đó hình thành cơ sở thể chế hóa cho hành động tập thể. Lý thuyết phụ thuộc lẫn nhau đã trở thành công cụ lý thuyết chính để hiểu được bản chất của an ninh năng lượng cũng như có tác động sâu sắc đến hợp tác năng lượng quốc tế hiện nay.

Trên thực tế, trước những diễn biến ngày càng phức tạp của vấn đề an ninh năng lượng và tác động của việc khai thác sử dụng năng lượng đến môi trường và biến đổi khí hậu, gây ảnh hưởng tới không chỉ một quốc gia riêng lẻ nào và đòi hỏi sự chung tay giải quyết của nhiều bên, hầu hết các diễn đàn khu vực và quốc tế đã đưa vào và nâng mức độ ưu tiên của vấn đề này trong chương trình nghị sự của mình.

Liên Hợp Quốc đã tuyên bố “đảm bảo việc tiếp cận năng lượng với giá cả hợp lý, tin cậy, bền vững và hiện đại cho tất cả mọi người” là một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững của thế giới cho giai đoạn 2015-2030. Trong đó nhấn mạnh 3 mục tiêu là: (i) Đảm bảo cho mọi người đều có thể tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại; (ii) Tăng gấp đôi hiệu quả sử dụng năng lượng toàn cầu; và (iii) Tăng gấp đôi tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng của thế giới.

an ninh nang luong va ngoai giao nang luong kinh nghiem quoc te va ham y chinh sach cho viet nam ky ii

Các tổ chức lớn về năng lượng như Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ thế giới (OPEC) đang đóng vai trò lớn trong việc bình ổn thị trường năng lượng thế giới, tư vấn chính sách cho các quốc gia nhằm hài hòa hóa an ninh năng lượng, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Các diễn đàn đa phương như G20, APEC, ASEAN xác định vấn đề an ninh năng lượng chung là yếu tố then chốt đối với tăng trưởng của cả khối và cũng triển khai nhiều cuộc đối thoại, dự án hợp tác với trọng tâm là phát triển năng lượng bền vững. Ví dụ, một nghiên cứu chung giữa Trung tâm Năng lượng ASEAN, Tổ chức Hợp tác và Phát triển năng lượng toàn cầu đa kết nối (GEIDCO) và Uỷ ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương của Liên hợp quốc với chủ đề “Đa kết nối năng lượng ở ASEAN vì xã hội bền vững và tự cường” đã chỉ ra rằng xây dựng nền tảng đa kết nối năng lượng ở ASEAN và kết nối với bên ngoài là chìa khoá để thúc đẩy sự phát triển của năng lượng sạch.

Có thể nói, những nỗ lực xử lý các vấn đề năng lượng tại các diễn đàn đa phương như trao đổi chia sẻ chính sách an ninh năng lượng bền vững, duy trì sự an toàn của các tuyến đường vận chuyển năng lượng và các vấn đề khác đã thể hiện rõ yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và xu thế, vai trò của hợp tác năng lượng trên thế giới hiện nay.

Ngoại giao năng lượng

Như đã phân tích ở trên, năng lượng là nguồn sức mạnh, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại, động lực tăng trưởng kinh tế trong xã hội công nghiệp hiện đại và là nguồn lực chiến lược không thể thay thế của chính trị quốc tế, an ninh quốc gia và ngoại giao. Do đó, ngoại giao năng lượng nhanh chóng trở thành chủ đề cơ bản của ngoại giao đương đại. Mặc dù không có định nghĩa chính xác cho ngoại giao năng lượng nhưng có thể hiểu ngoại giao năng lượng liên quan đến các hoạt động đối ngoại nhằm đảm bảo an ninh năng lượng của một quốc gia đồng thời thúc đẩy các cơ hội kinh doanh liên quan đến ngành năng lượng cũng như thúc đẩy các cơ hội hợp tác song phương và đa phương nói chung.

Mục tiêu chiến lược của ngoại giao năng lượng nói chung là theo đuổi lợi ích kinh tế và chính trị-an ninh trong phân bổ, tiếp cận nguồn năng lượng toàn cầu và bảo đảm sự phát triển kinh tế bền vững và vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Để tránh các cuộc cạnh tranh gia tăng sự hủy diệt và hỗn loạn trên thị trường năng lượng thế giới, để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, khu vực và toàn cầu, để tận dụng các lợi thế địa chiến lược về mặt năng lượng như đã phân tích ở trên, các quốc gia đã tăng cường xây dựng chiến lược phát triển năng lượng và triển khai các hoạt động ngoại giao năng lượng ngày càng mạnh mẽ. Trong đó, các vấn đề an ninh – kinh tế chiến lược là trọng tâm và ưu tiên hàng đầu.

Trong thế giới đương đại, có thể nhận thấy 2 loại ngoại giao năng lượng chính là ngoại giao vì năng lượng và ngoại giao bằng năng lượng. Theo đó, ngoại giao năng lượng có hai khía cạnh cụ thể: (i) mục đích của các hoạt động chính trị bên ngoài là đảm bảo an ninh năng lượng, phục vụ chiến lược an ninh – kinh tế quốc gia; và (ii) có những động cơ chính trị trong ngoại giao năng lượng, tức là đạt được các mục đích chính trị cụ thể thông qua việc tận dụng lợi thế về năng lượng.

an ninh nang luong va ngoai giao nang luong kinh nghiem quoc te va ham y chinh sach cho viet nam ky ii
G20 Osaka Summit 2019

Từ việc nghiên cứu một cách có hệ thống cả thực tiễn và lý thuyết trong ngoại giao năng lượng của các quốc gia, có thể khái quát một số nhân tố tác động đến chiến lược phát triển năng lượng và ngoại giao năng lượng của một quốc gia bao gồm:

Thứ nhất, lợi thế tự nhiên và nhu cầu về năng lượng của mỗi quốc gia trong chiến lược an ninh – kinh tế – chính trị tổng thể. Theo đó: (i) nhiệm vụ cơ bản của ngoại giao năng lượng của các nước phụ thuộc nguồn cung năng lượng bên ngoài là thúc đẩy đa dạng hóa, đảm bảo nguồn năng lượng dài hạn và bền vững từ nhập khẩu và phát triển khả năng tự cung ứng bằng các dạng thức năng lượng mới, đảm bảo cung ứng đủ nhu cầu năng lượng nội địa; (ii) Mục tiêu của các nước có lợi thế xuất khẩu năng lượng là duy trì mức giá cao của các sản phẩm năng lượng trong phạm vi hợp lý và tránh biến động giá, đảm bảo duy trì khả năng cung ứng thông suốt cho các đối tác có nhu cầu để thu lợi kinh tế, tạo thế đan xen lợi ích để tạo dựng ảnh hưởng; và (iii) Đối với các nước có lợi thế trung chuyển, mục tiêu chính là trở thành mắt xích trong hệ thống năng lượng quốc tế, đảm bảo an toàn và tính thông suốt cho các tuyến vận chuyển, tạo đòn bẩy thực hiện các mục tiêu chính trị – an ninh – kinh tế.

Thứ hai, sự thay đổi trong cơ cấu thị trường năng lượng. Nếu như trước đây, năng lượng tự nhiên sẵn có như dầu mỏ, khí đốt, than đá gần như là dạng năng lượng duy nhất và có vai trò chi phối hoàn toàn thị trường năng lượng thế giới thì cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các dạng năng lượng tái tạo đang ngày càng được ưa chuộng và gia tăng thị phần. Điều này sẽ tác động đến vị thế chiến lược của các quốc gia trong hệ thống năng lượng quốc tế và chính sách ngoại giao năng lượng của các nước.

Thứ ba, tác động của các chủ thế phi nhà nước như các thể chế đa phương, các tập đoàn đa quốc gia trong hệ thống năng lượng quốc tế… Những biến chuyển trong bối cảnh quốc tế đã làm nổi bật vai trò của các thể chế đa phương. Các thể chế này tạo ra sân chơi để các nước đối thoại, củng cố lòng tin chiến lược, hài hòa lợi ích vì mục tiêu phát triển bền vững chung. Vai trò của các tập đoàn đa quốc gia cũng ngày càng lớn trong nền kinh tế năng lượng thế giới. Mối quan hệ giữa chúng có liên quan đến an ninh năng lượng đa quốc gia, vì vậy duy trì hợp tác giữa các công ty năng lượng đa quốc gia lớn trên thế giới có ý nghĩa rất quan trọng. Sự hợp tác này tồn tại ở cấp độ ngoại giao năng lượng của công ty và cũng có thể có chi phối đến ngoại giao năng lượng Chính phủ.

Thứ tư, các vấn đề an ninh phi truyền thống liên quan đến năng lượng như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, tội phạm xuyên quốc gia. Quy mô của thương mại năng lượng thế giới trong thế kỷ 21 sẽ mở rộng đáng kể. Cùng với đó, các vấn đề vận chuyển quá cảnh quốc tế sẽ thường xuyên xuất hiện trong thực tiễn ngoại giao năng lượng. Trong đó, tình hình chính trị – xã hội nội bộ và vấn đề tội phạm xuyên quốc gia như cướp biển đang nổi lên rõ nét. Thực tiễn này sẽ đòi hỏi một nền tảng luật pháp quốc tế nhằm đảm bảo cho hoạt động xuyên suốt của các tuyến vận tải năng lượng quốc tế. Ngoài ra, tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, biến đổi hệ sinh thái ngày càng nghiệm trọng, trong đó khai thác và sử dụng năng lượng là một nguyên nhân chính, cũng ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao năng lượng của các quốc gia. Các chính phủ, do nhận thức tính nghiêm trọng của các khía cạnh phi truyền thống lẫn sức ép của các tổ chức môi trường, sẽ phải để tâm hơn đến việc xử lý các vấn đề này.

Tóm lại, năng lượng là tài nguyên cơ bản cho phát triển kinh tế xã hội quốc gia, gắn liền với chính trị quốc tế, ngoại giao và an ninh quốc gia, và đã trở thành nhân tố chủ chốt trong quan hệ quốc tế luôn thay đổi. Tăng cường hợp tác năng lượng quốc tế và xây dựng trật tự năng lượng quốc tế mới là cách duy nhất để tránh thảm họa xung đột toàn cầu phát sinh khi cạnh tranh năng lượng trở nên mất kiểm soát. Do đó, cộng đồng quốc tế ngày càng nhấn mạnh rằng cần đạt được an ninh năng lượng thông qua hợp tác và phối hợp quốc tế và việc duy trì an ninh năng lượng phải gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội bền vững, cũng như quan hệ chính trị đối ngoại của đất nước.

Tác giả: Vũ Lê Thái Hoàng và  Hàn Lam Giang