Indonesia cần những biện pháp quan trọng để phục hồi đầu tư vào thăm dò và phát triển dầu khí

10:47 | 17/11/2021

|
(PetroTimes) - Ngành công nghiệp năng lượng của Indonesia đã rơi vào thời kỳ khó khăn. Sản lượng thấp hơn nhiều so với chỉ một thập kỷ trước, các nỗ lực hiện đại hóa không theo kịp với hầu hết các quốc gia khác và (cho đến gần đây) nhập khẩu nhiên liệu liên tục tăng. Sau đó, cuộc khủng hoảng coronavirus xảy ra, gây ra sự suy thoái kinh tế và tiếp tục phá hoại lĩnh vực này. Với một sự thúc đẩy quyết tâm, các nhà lãnh đạo ngành có thể hồi sinh ngành bất chấp những thách thức ngày càng lớn.

Kỳ I – Các biện pháp quan trọng để phục hồi đầu tư

Indonesia cần những biện pháp quan trọng để phục hồi đầu tư vào thăm dò và phát triển dầu khí

Một giàn khoan trên giàn khai thác ngoài khơi Indonesia. Ảnh: tư liệu.

Phân tích của McKinsey về các kịch bản có thể xảy ra cho thấy nỗ lực thúc đẩy lĩnh vực đang gặp khó khăn có thể bắt đầu một cách nghiêm túc với việc nới lỏng các hạn chế xã hội quy mô lớn liên quan đến đại dịch. Các nhà lãnh đạo có thể xây dựng các chương trình đầu tư năng động đã có và tận dụng các nguồn tài nguyên phong phú, tăng trưởng kinh tế ổn định và dân số trẻ lớn của Indonesia. Thành công trong môi trường hậu COVID-19 sẽ phụ thuộc phần lớn vào cách lĩnh vực này nhìn nhận lại và cải cách chính nó cũng như cách các nhà lãnh đạo nhà nước và tư nhân giải quyết những thách thức cơ bản về lâu dài mà lĩnh vực này phải đối mặt.

Indonesia đã từng là nước xuất khẩu ròng dầu mỏ và là thành viên của OPEC, nhưng việc đầu tư không đầy đủ, đặc biệt là vào lĩnh vực thăm dò, và giá toàn cầu thấp đã làm suy yếu ngành công nghiệp dầu mỏ của nước này. Năm 2018, Indonesia là nhà nhập khẩu ròng hơn 550.000 thùng dầu thô và các sản phẩm mỗi ngày, tương đương khoảng 20 tỷ USD / năm và trong vòng 5 năm tới, Indonesia cũng có thể trở thành nhà nhập khẩu ròng khí đốt tự nhiên. Nhập khẩu dầu hiện chiếm khoảng 50% lượng sử dụng của đất nước. Thúc đẩy ngành công nghiệp thượng nguồn trong nước bằng cách sử dụng các biện pháp khuyến khích được thiết kế tốt có thể giúp đảo ngược xu hướng này.

Trong hai thập kỷ qua, sản lượng dầu ở Indonesia đã giảm hơn 40% trong khi sản lượng khí đốt tự nhiên từ các lưu vực hiện có cũng giảm. Những tác động đáng kể: nhập khẩu các sản phẩm dầu mỏ đã tăng lên, các cảng như ở Arun đã chuyển từ cơ sở xuất khẩu sang cơ sở nhập khẩu và các nhà máy như cơ sở khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) ở Bontang đang hoạt động kém hiệu quả. Mặc dù đã có một số dự án mở rộng trong thập kỷ qua - chẳng hạn như những dự án ở Banyu Urip, Donggi-Senoro, Jangkrik và Tangguh - chúng vẫn chưa đủ để chống lại sự sụt giảm sản lượng.

Hơn nữa, đầu tư hàng năm gần đây cho hoạt động thăm dò chỉ bằng khoảng một nửa so với năm 2010. Rất ít phát hiện quan trọng được báo cáo ở Indonesia và các quyết định đầu tư cuối cùng cho một số dự án đầu tư đã bị trì hoãn trong 4-5 năm qua theo các nhà phát triển đánh giá tính khả thi về kinh tế của các dự án này. Từ năm 2015 đến 2019, chi phí đầu tư hàng năm cho hoạt động thăm dò ở Indonesia trung bình khoảng 320 triệu USD, chưa đến 5% chi tiêu vốn hàng năm cho các dự án thượng nguồn. Tình trạng thiếu đầu tư kéo dài đã góp phần khiến sản lượng sụt giảm trong những năm gần đây.

Để phục hồi các khoản đầu tư vào thăm dò và phát triển dầu khí tự nhiên, Indonesia sẽ cần thực hiện một số biện pháp quan trọng:

• Thiết kế các chương trình khuyến khích nhằm tăng cường đầu tư thăm dò.

• Tiến hành đánh giá toàn diện, dựa trên thời gian về các dự án phát triển đã và đang được tiến hành để tìm ra các giải pháp đẩy nhanh tiến độ và đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và chính phủ.

• Đơn giản hóa các quy trình phê duyệt của Chính phủ và địa phương để đẩy nhanh việc thực hiện các dự án tiềm năng.

• Thu hút các nhà điều hành có kinh nghiệm về các bể dầu khí để tăng cường thu hồi dầu và các phương pháp hiện đại khác để đầu tư và phát triển các tài sản trưởng thành.

(Còn tiếp)

Kỳ II – Hỗ trợ pháp lý từ Chính phủ

Mai Hồ