An ninh năng lượng và ngoại giao năng lượng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam (Kỳ IV)

09:00 | 29/05/2020

|
Năng lượng là nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nga và là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh chính trị và vị thế quốc tế của quốc gia này.

Kỳ IV: Chính sách ngoại giao năng lượng của Nga

Nga có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới, trữ lượng than lớn thứ hai và trữ lượng dầu lớn thứ bảy. Trước đây, Liên Xô đã dựa vào việc cung cấp năng lượng để tăng thu ngân sách, giảm căng thẳng chính trị và tham gia giao thương với Tây Âu, đặc biệt là Tây Đức. Hiện nay, khi sức mạnh quân sự của Nga kém hơn rất nhiều so với thời Liên Xô, quan hệ năng lượng càng chứng tỏ là một công cụ ảnh hưởng quan trọng và linh hoạt hơn nhiều.

Kể từ khi lên nắm quyền, Tổng thống Putin đã cân nhắc việc tích hợp chính sách đối ngoại và chính sách năng lượng để tận dụng lợi thế vừa là nước nắm giữ nguồn tài nguyên hydrocacbon, vừa là một nước sản xuất, xuất khẩu năng lượng lớn để gây ảnh hưởng với các mức độ khác nhau. Chiến lược năng lượng xuyên suốt nhiều năm của Nga đã phản ánh rõ nhận thức và định hướng này, trong đó “nguồn tài nguyên năng lượng quan trọng và tổ hợp năng lượng-nhiên liệu phong phú” của Nga là “một công cụ để thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại” và “vai trò của Nga trên thị trường năng lượng toàn cầu sẽ xác định tầm ảnh hưởng địa chính trị của quốc gia”.

Nhìn một cách khái quát, năng lượng đang đóng 3 vai trò trong chính sách đối ngoại và phát triển của Nga: (i) nguồn thu hút kinh tế từ các nước láng giềng và đối tác; (ii) yếu tố quan trọng trong quan hệ song phương với các nước láng giềng nhằm đổi lấy các lợi ích kinh tế và chính trị, thậm chí đôi khi là quân bài chiến lược để gây sức ép; và (iii) phương tiện để đạt được ảnh hưởng kinh tế và chính trị thông qua các cơ chế phi truyền thống.

an ninh nang luong va ngoai giao nang luong kinh nghiem quoc te va ham y chinh sach cho vn ky iv
Sơ đồ đường ống dẫn dầu và khí của Nga sang Châu Âu

Có thể nói, những nhạy bén về chính sách ngoại giao năng lượng cùng với những lo ngại của các nước về cân bằng năng lượng trong tương lại đã tạo cho Nga một bàn đạp để chiếm ưu thế trên trường quốc tế. Giai đoạn giá dầu đạt đỉnh năm 2008 cũng là thời điểm đỉnh cao trong ảnh hưởng đối ngoại của Nga trên trường quốc tế, được thể hiện rõ nét qua bài phát biểu của Tổng thống Putin tại Hội nghị thượng đỉnh NATO ở Bucharest (Rumani) và sự kiện Nga đưa quân vào Grudia vài tháng sau đó. Cuộc khủng hoảng kinh tế 2009 dù khiến giá dầu lao dốc và gây không ít khó khăn đối với cách tiếp cận sử dụng đòn bẩy năng lượng trong quan hệ đối ngoại của Nga nhưng cũng là dấu mốc giúp Nga nhận diện và điều chỉnh chính sách ngoại giao năng lượng của mình.

Đặc điểm quan trọng trong chính sách xuất khẩu năng lượng của Nga trong giai đoạn đến 2030 là đa dạng hóa thị trường theo các dạng nguồn năng lượng và theo khu vực. Trong tương lai, Nga sẽ vẫn duy trì ảnh hưởng ở thị trường Tây và Trung Âu với ưu thế năng lượng dầu mỏ và hệ thống đường ống dẫn rộng khắp. Nga cũng đã thể hiện sự quan tâm trong việc phát triển hợp tác năng lượng (bao gồm cả hạt nhân) với một số quốc gia ở Châu Phi, bao gồm Angola, Ai Cập, Namibia, Nigeria và Nam Phi. Thế nhưng mục tiêu chính trong chiến lược đa dạng hóa xuất khẩu lại là các thị trường mới ở châu Á – Thái Bình Dương, thể hiện qua chiến lược năng lượng nằm trong tổng thể Chiến lược Hướng Đông của Nga.

Một số nội dung chính trong Chiến lược năng lượng hướng Đông của Nga gồm: (i) Hình thành các tổ hợp năng lượng trên vùng Viễn Đông của Nga nối liền với khu vực Đông Á đến châu Á – Thái Bình Dương và trên bờ biển, thềm lục địa biển phía Bắc nước Nga; (ii) Đến năm 2030 cần phải đạt 26-27% xuất khẩu tài nguyên năng lượng, 22-25% xuất khẩu dầu thô và 19-20% xuất khẩu khí thiên nhiên của Nga sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương;[11] (iii) Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực công nghệ năng lượng, đặc biệt là công nghệ nguồn năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng; (iv) Thúc đẩy thành lập một số cơ chế đối thoại và hợp tác mới với các nước trong khu vực để đảm bảo về vấn đề an ninh năng lượng khu vực, trong đó có cân nhắc đến lợi ích lâu dài của Nga như là nhà cung cấp năng lượng chính trong khu vực; và (v) Đưa ra thảo luận trong khu vực các vấn đề an ninh năng lượng trọng yếu, trong đó tập trung vào phát triển hạ tầng năng lượng và các chính sách năng lượng và an ninh năng lượng của các nước và toàn khu vực.

Có thể nói, Nga đã triển khai khá thành công chính sách ngoại giao năng lượng của mình, một phần do sự tham gia tích cực của cá nhân các lãnh đạo cấp cao. Tuy nhiên, hiện nay chiến lược năng lượng của Nga vẫn dựa chủ yếu trên lợi thế tự nhiên sẵn có là các dạng năng lượng không tái tạo và hệ thống đường ống dẫn dầu khí vượt trội. Thực tế này khiến Nga phụ thuộc nhiều vào giá dầu thế giới, vốn không ổn định do sự cạnh tranh ngày càng mạnh từ các chủ thể mới nổi khác như Mỹ, sự bất ổn của tình hình chính trị – xã hội ở các vùng địa chiến lược năng lượng cũng như xu hướng phát triển của năng lượng tái tạo. Diễn biến cuộc chiến dầu mỏ đang diễn ra rất căng thẳng hiện nay giữa Nga – OPEC – Mỹ phản ánh rõ nét điều đó. Đàm phán giữa Nga và OPEC đổ bể do cường quốc này không muốn tiếp tục giảm sản lượng. Đồng thời, Nga liên tục phàn nàn rằng thỏa thuận OPEC+ đã hỗ trợ cho nền công nghiệp đá phiến của Mỹ. Nga quan ngại với phía Mỹ trong việc nước này liên tục sử dụng các lệnh trừng phạt để làm cản trở đường ống Nord Stream 2, một đường ống nối các mỏ khí rất quan trọng trong chiến lược mở rộng ảnh hưởng năng lượng của Nga tại châu Âu. Những căng thẳng này đã đẩy giá dầu xuống mức thấp kỷ lục trong vòng 18 năm qua . Trong ngắn hạn, Nga có khả năng đối phó sự sụt giá nhưng cán cân ngân sách đang mất dần sự cân bằng và cho thấy tính bền vững trong đối ngoại năng lượng Nga rất bấp bênh và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Tác giả: Vũ Lê Thái Hoàng và  Hàn Lam Giang